Thương nhớ mười hai
April 25, 2026
Tháng 3, 2023,
Lượn lờ quanh khu Hoa kiều Argyle ở Chicago, tôi lạc vào tiệm sách của một cặp vợ chồng Hoa-Việt. Mùi giấy cũ của những trang sách đã ngả vàng trên giá sách hòa cùng mùi da thuộc đã sờn của những tấm bìa cứng làm cho lòng người cũng thật cũ kĩ. Đã bao lâu rồi tôi chưa đi hiệu sách, chưa mần theo những kệ sách sặc sỡ cao quá đầu, chọn một cuốn sách tên thật kêu, rồi kê ghế đẩu vào góc tiệm lén lút ngấu nghiến đến khi chập tối nhỉ? Tôi mần mò trên giá, đằng sau tủ kính bụi bặm, như cũng đang đào xới ký ức đã mờ bụi của mình một tiêu đề thân thuộc. Giữa những tập Kim Bình Mai, Tam quốc chí, Hồng lâu mộng thuộc da dát chỉ vàng kệch cỡm, một bìa giấy trắng lọt thỏm trong góc. Nó nằm im như ai đã từng đọc, từng mê, từng cất lại lên giá sách để rồi lãng quên trong xó. Tôi ráng nhìn, dọc sống lưng bìa chạy hàng chữ “Thương nhớ mười hai - Vũ Bằng”.
Mười hai tháng, mười hai mùa hoa của Bắc Việt nói chung và của Hà Nội nói riêng. Vũ Bằng cũng mất mười hai năm để hoàn thành truyện ngắn kể từ khi chắp bút. Hà Nội có gì mà làm người ta say mê đến thế, nhớ nhung đến thế, khó nói đến thế? Hà Nội có gì mà làm cho người con đã dành cả đời ở đây, hiểu từng ngóc ngách như lòng bàn tay, chỉ nghĩ thôi cũng thấy tò mò? Và Hà Nội có gì để người người đều muốn chắp bút: viết văn, viết thơ, vẽ tranh, làm phim, phổ nhạc, ngợi ca mãi mà không thấy đủ?
Tôi thì thấy: Hà Nội đẹp hơn khi người ta rời xa nó, để thấy cái khác, cái ngợp trong nhịp sống làm trái tim mình loạn nhịp. Cái vui thú của Sài Gòn, của Mỹ mười phần lung linh hơn, không ngừng nghỉ, thâu đêm suốt sáng. Nhưng Hà Nội có bao giờ chậm, có khi nào yên ắng, có khi nào ngủ.
“Một tiếng còi tàu vào ga đầu cầu, một tiếng chim vù bên cửa sổ, một tiếng võng đưa bên hàng xóm, một tiếng rao đêm…”
- Trích phim “Hà Nội trong mắt ai (1982)” của đạo diễn Trần Văn Thủy.
Người Hà Nội đã giàu có bao giờ? Họ cũng bươn chải, cũng lo từng miếng ăn giấc ngủ, mà chẳng “đầu tắt mặt tối” như ở đâu khác. Bà, mẹ tôi “sợ” nhất là Tết, vì Tết “vội” quá. Người ra kẻ vào nườm nượp, chợ búa, sắm sửa, tảo mộ, biếu xén quà cáp. Trước đêm ba mươi, từ nhà đến chợ và ra đến cả nghĩa trang, đâu đâu cũng nghìn nghịt người chen chúc. Mùi khói hương, mùi tro giấy hòa cùng mùi rượu nếp cháy và mùi ngai ngái của những nụ hoa đang thức giấc. Nhưng người Hà Nội vội vàng thế cũng vì chạy đua với thời gian, để chiều tất niên, thành phố lại im lặng, lại chậm, nhưng trong bộ cánh mới rực rỡ cờ hoa.
Sau Tết, Hà Nội bước vào những ngày tháng Giêng bảng lảng. Mưa phùn giăng như tơ, bám lên áo anh và lên cả tóc em, như sợi chỉ hồng của ông Tơ bà Nguyệt. Hoa đào đã tàn nhưng hương vẫn còn vương trong gió, rồi mùi bánh trái còn sót lại trên ban thờ, làm cái rét tháng Giêng trở nên rất “ngọt”. Người miền Bắc đi lễ chùa cũng khác. Họ không vội. Vào chùa là vào thật, thắp nén hương, đứng lặng một lúc, rồi khấn. Cầu an trước, cho lòng mình yên đã, rồi mới nghĩ đến tài lộc, duyên phận. Mỗi lời khấn như một câu chuyện nhỏ, kể chậm rãi với trời đất, với chính mình. Họ làm vậy không phải vì rảnh, mà vì tin rằng những điều quan trọng thì không thể vội. Còn ở miền Nam, đền chùa cũng đông, cũng lớn, nhưng cách đi lễ lại khác. Người ta ghé qua, xá vài xá, thắp nén hương, rồi đi tiếp. Không phải là không thành tâm, chỉ là cái nhịp sống ở đó vốn đã nhanh, cái gì cũng gọn gàng, dứt khoát. Cầu gì thì nói nhanh, xin gì thì nói thẳng, rồi lại hòa vào dòng người ngoài kia.
Không biết các miền khác thế nào, nhưng kỳ thú nhất ở Hà Nội có lẽ là những con đường đầy lá sấu mỗi độ cuối xuân. Lạ ở chỗ, người ta vẫn quen nghĩ cây rụng lá vào mùa thu, khi trời hanh hao, khi cái lạnh bắt đầu len về. Nhưng sấu thì không. Sấu chọn lúc xuân gần tàn để trút lá, như thể dị ứng với những sợi nắng đầu hè mỏng tang. Lá sấu rơi kín cả mặt đường, vẫn xanh, không vàng úa, không xác xơ. Người ta đi qua, giẫm lên, nghe lách tách, giòn rụm. Đường tôi đi học về ngày bé, lá sấu rơi đầy, phủ lên cả lối đi nhỏ. Tôi vừa đi vừa đọc ê a mấy câu thơ học thuộc, mà đến giờ vẫn nhớ, dù chẳng còn nhớ đã học từ đâu:
“cuối xuân sấu trút lá
sắc xanh rải khắp vườn
em đem về phơi nắng
để cho bà thổi cơm”
Đến tháng tư, tháng năm, cái nắng bắt đầu len lỏi. Không phải thứ nắng gắt gỏng, mà là thứ nắng đủ để người ta nhận ra mùa hè đang đến gần. Bà ngoại thích nhất hoa loa kèn, nên cứ đến đầu tháng tư, tôi và mẹ lại ra phố Nguyễn Tri Phương để tìm những cô bán hàng rong, chọn một vài bông huệ tây trắng muốt, nụ hoa còn chúm chím để cắm mừng sinh nhật bà. Những cô thiếu nữ điệu đà tung tăng trong tà áo dài, tay ôm bó hoa trắng, đứng tạo kiểu bên những hàng cây đại thụ đã bắt đầu lên lá sum suê.
Họa sĩ Tô Ngọc Vân có lẽ không nỡ để cái đẹp dịu dáng ấy tuột qua kẽ tay, mà phải chắp bút lưu giữ bức tranh để đời “Thiếu nữ bên hoa huệ”.
Rồi hè đến thật. Tháng sáu, tháng bảy, cái nóng đổ xuống như trút. Tiếng ve râm ran trên những tán cây, tiếng quạt quay đều trong những căn nhà cũ, tiếng đá lách cách trong cốc trà chanh ven đường. Mùa hè Hà Nội với tôi là những buổi trưa ngủ gật, những lần tắm mưa rào rồi cảm lạnh, những cốc nước sấu ngâm mật ong ngọt nhẹ, mát lịm sau vài ván cờ tướng với các cụ già đầu ngõ. Tôi từng nghe cô giáo dạy văn kể rằng Nguyễn Tuân khi đứng bên Hồ Gươm giữa một ngày hè đã thốt lên rằng: “Nước Hồ Gươm đích thị như nước rau muống luộc!”. Không rõ đó có phải nguyên văn hay không, nhưng cái so sánh ấy thì đúng là rất Nguyễn Tuân: chua chát, tinh quái, mà lại kéo cái đẹp xuống gần đến mức ai cũng có thể cảm được bằng ký ức bữa cơm nhà.
Thu về bất chợt, làm người đang ngủ khẽ co mình vì cơn gió lùa qua cửa sổ. Tháng tám, tháng chín, gió mát hơn, trời cao hơn và lòng người cũng dịu lại. Mùi hoa sữa nồng hăng len qua từng góc phố, khiến người ta vừa nhớ vừa… sợ. Cốm mới dẻo thơm, vốn chỉ cần ăn cùng chuối là đủ, vậy mà người ta lại bày ra đủ cách biến tấu, có khi ăn cùng kem Tràng Tiền, như một kiểu nghịch ngợm rất Hà Nội lúc giao mùa. Thu về thành phố rực rỡ cờ hoa ở Nhà hát Lớn. Những tối cuối tuần, người Hà Nội kéo nhau ra quảng trường Ba Đình để thưởng vi vu gió mát trên những thảm xanh rộng, để xem các chú nghi thức hạ cờ trước Lăng Bác. Thu đi vào âm nhạc, trong giọng hát của Hồng Nhung:
“Có chắc mùa thu lá rơi vàng tiếng gọi
Lệ mừng gặp nhau, xôn xao phím dương cầm
Có phải em là mùa thu Hà Nội?
Nghìn năm sau, ta níu bóng quay về”
Có lẽ không ở đâu mùa thu lại trở thành một điều để người ta mong đợi, để người ta nhắc đi nhắc lại nhiều như ở Hà Nội.
Và rồi đông. Tháng mười một, tháng mười hai, cái lạnh đến chậm nhưng thấm. Không phải cái lạnh cắt da cắt thịt, mà là cái lạnh len vào từng kẽ tay, từng hơi thở. Người ta khoác thêm áo, quấn thêm khăn, ngồi sát lại gần nhau hơn. Những hàng ngô nướng, khoai nướng ven đường tỏa khói nghi ngút, vừa đủ để sưởi ấm một góc phố, vừa đủ để giữ chân người qua đường thêm vài phút. Người ta không vội đi tiếp, cũng không vội rời khỏi cái ấm nhỏ nhoi ấy. Chỉ đứng lại, xuýt xoa, chờ thêm một chút nữa cho than hồng bén lại, cho câu chuyện giữa người bán kẻ mua kéo dài thêm vài nhịp. Mùa đông là đi qua cầu vượt để sang quán ốc vỉa hè bên kia đường, chợt dừng lại giữa dòng người để nhìn xuống, thấy một dải đèn đỏ, đèn trắng kéo dài như ngưng lại. Người ta kẹt xe mà không có vẻ gì vội vàng; có thể hơi nóng từ chục nghìn động cơ đang nổ máy khiến không khí bớt lạnh, cũng có thể đơn giản vì “Hà Nội không vội được đâu…”.
Mười hai tháng đi qua, không phải để đếm mùa, mà để nhận ra rằng thương nhớ đôi khi không cần lý do. Không phải Hà Nội khiến người ta nhớ. Mà là người ta đi qua đủ nhanh ở nơi khác, rồi quay về và bỗng thấy mọi thứ ở đây đều có lý do để chậm lại: một chút gió, một tách trà, một vệt đèn đỏ trên phố đông… cũng đủ để giữ chân người ta lâu hơn dự định.
Và trong cái chậm ấy, người ta kịp nghe thấy chính mình.